quê hương và niềm nhớ

Tàn thu

Tàn thu

  Hẹn em giữa phố thu bay
                                      Nghiêng nghiêng bóng ngã nét gầy dưới trăng
                                           Buồn vương nặng trĩu cung hằng                            

                        Đêm thu dần xuống tung tăng đóm lòe
      Khói vàng tay thuốc im nghe
               Tiếng thu thổn thức bên hè đợi em
     Đêm dần buông, đã nửa đêm
                      Dáng hoa đâu thấy càng thêm nát lòng
Tìm anh, lạc lối vườn hồng
                   Hay em nhạt mối tình nồng cuối thu .
Mississipi (1986).

 

 

 

                 

 

Mình ơi, anh ở đâu?

Anh ở đâu

                                                               Mình hởi, bây giờ anh ở đâu?
                                                               quanh em ảm đạm một trời sầu
                                                               nước dâng cao ngất vì lũ lụt
                                                               họa đến từ đâu trút xuống đầu

                                                               Kiếp người lận đận mấy bể dâu
                                                               cuộc sống từ đây lắm dãi dầu
                                                               nhìn về sóng nước mênh mông quá
                                                               ngoảnh lại tìm đâu thấy mái nhà

                                                              Một thoáng,  ngày qua đã cách xa
                                                              hạnh phúc đơn sơ vốn hiền hòa
                                                              bữa cơm đạm bạc mà vui lạ
                                                              xóm làng đùm bọc nghĩa bao la

                                                              Giờ chỉ còn em giọt lệ nhòa
                                                              ngoài trời mưa lũ vẫn chưa qua
                                                              khổ đau, mất mát làm sao thấu
                                                              Mình hởi, bây giờ anh ở đâu?

THUYỀN VÀ BẾN

Xin chia sẻ  bài thơ “THUYỀN VÀ BẾN” với quý bạn. Bài thơ này được ghép thêm bốn câu thơ của Thầy cũ của tôi, Thầy Nguyễn Phước Hậu. Bốn câu thơ dưới đây được Thầy viết tiếp cho bài thơ “Biển và anh” của tôi. Xin cám ơn Thầy thật nhiều!
“Gió chiều lay nhẹ cành thông
Sóng xô bọt trắng, mây hồng vần xoay
Trăm năm bến vẫn còn đây
Thuyền ơi xin nhớ lối nầy nẻo xưa!”

Vô đề

Bên cạnh đất trời mênh mông, thiên nhiên hoang dã, hùng vĩ núi cao, vực sâu…Tác giả chợt nghĩ về một vùng trời tự do khác mà mình đã “…lỡ cuộc đời mênh mông”. Xin chia sẻ bài thơ “Vô đề” của Trầm Tưởng.

vo de 4

Biển và anh

Tình thu

tinh thu 3

       Sao không là Chức Nữ
                  cũng chẳng phải chàng Ngưu
      mình vẫn đợi mùa thu
cho mắt xa mịt mù
    cho sầu lên hoang vu

         Mưa Ngâu buồn như cũ
   da diết giữa trời thu
      như khúc nhạc tình ru
    cho cuộc tình quý giá
           bằng nước mắt chan hòa

       Xa lắm  dòng Ngân hà
    cầu Ô Thước bắc qua
       Chức-Ngưu giờ gặp gỡ
         tình không còn là mơ…
        ngăn cách vẫn đợi chờ

       Gió heo may hững  hờ
    se lòng bao nỗi nhớ
 lá khô buồn bơ vơ
          Chức-Ngưu hồ cứ ngỡ…
      tình mình đâu là mơ!

 

Con đường quê hương

Bài viết này cô xin gởi đến cho tất cả các em học trò nhỏ của cô ở trường Việt Ngữ Cơ Đốc Phục Lâm El Monte, California. Cô luôn hy vọng rằng các em sẽ  tiếp tục đi học tiếng Việt để gìn giữ tiếng nói của chúng ta mãi mãi nha các em. “Con đường em đến trường mà cô ngỡ đó là con đường đầy tình tự của quê hương mình”. 

con duong2

 

 

                                       

 

Thu buồn

Ảnh: Lựu Nguyễn

            Anh vẫn đợi em mấy thu vàng
              bao mùa lá rụng nhớ miên man
                       thoáng chốc trong hồn anh mộng ảo
      chợt thấy em về, ta có nhau

                Như vẫn còn đây, mấy ngọt ngào
              em cười trong nắng, gió lao xao
       mây trời vội vã thay màu áo
              cả tiếng thu buồn cũng xôn xao

          Chốn cũ giờ đây vẫn thuở nào
               anh còn nhớ mãi, biết… xa nhau
  em sẽ ra đi không về nữa
              sao vẫn mong chờ sớm với trưa

                          Nhớ thương, thương nhớ mấy cho vừa
         thu về còn đó chuyện xa xưa
           nhặt chiếc lá khô mà anh ngỡ
               nhặt mảnh tình mình vẫn bơ vơ!

 

 

 

Yêu mẹ mãi

          Bài viết này đã được gởi đến cho Thầy tôi với Blog “Chia sẻ vui buồn”. Xin được chia sẻ cùng các bạn sau một vài đổi mới. Chúc tất cả các bạn và gia đình một mùa Vu Lan đầy ơn phước và hiếu hạnh.       

Capture    

             Cám ơn mẹ đã cho con hạnh phúc
                            trong những ngày con còn mẹ thương yêu
              mẹ già rồi, con cũng tuổi xế chiều
              tóc mẹ bạc, tóc con đà điểm trắng

                    Con thương mẹ đã dãi dầu mưa nắng
                    mẹ thương con cũng oằn nặng hai vai
           là quê hương hay lặng lẽ nơi này
             con với mẹ vẫn ngày dài vất vả      

           Mẹ cho con niềm tin như phép lạ
         và cho con tất cả một trời yêu…
                                      mẹ thương con , thương lắm, thương thật nhiều
                    con nhớ mãi muôn chiều tình của mẹ!

                 Con nhớ mãi khung trời xưa gió nhẹ
          buổi trưa hè bên gối mẹ ngủ say
 lời mẹ ru êm ái vẫn còn đây
                con khôn lớn, yêu hoài, yêu mẹ mãi!

Thủy Trang

Chân dung Thầy cũ

Thầy cũ

Trường Hoàng Diệu thời ấy vốn là trường ‘ngon’ nhứt  của tỉnh lỵ, học trò giỏi cũng nhiều mà người đẹp cũng lắm, lúc chúng tôi còn ‘con nít’ lớp Đệ Ngũ thì hoa khôi đầy lớp Đệ Nhị, Đệ Nhứt, mấy ông thầy trẻ mới đổi về trường như Thầy Trần Kiều Sanh, Thầy Đỗ Như Thắng, Thầy Trần Phước… lần lượt xin chọn nơi nầy  làm quê hương. Khi tụi con nít chúng tôi thắc mắc hỏi về hiện tượng nầy , ông Thầy dạy Địa lý giải thích như sau ‘Quả đất có sức hút từ tâm trái đất, riêng cái chấm nhỏ xíu thuộc tỉnh Sóc Trăng nầy  thì vỏ trái đất lại quá mỏng nên sức hút càng mãnh liệt hơn …’ ông cười xoà làm cả đám vỡ lẽ gật gù, ờ há!

Năm lớp 12 tôi học ban A, môn Vạn vật với thầy Cấn Phan Nhiếp, ông thầy Bắc kỳ nho nhỏ đẹp giai mới đổi về trường làm nhiều đứa cũng mộng ngoài cửa lớp, chút lãng mạn của tuổi mới lớn vậy mà. Khi dạy đến phần cơ thể, ông vẽ hình  ‘cây gậy’ của quý ông, ông quay lưng xuống lớp và nói ‘tôi chỉ giảng về cấu tạo của nó, còn công dụng như thế nào thì không… biết’. Cả lớp cười ầm lên khi thấy đôi vai thầy cũng run run quay mặt vào tường giấu nụ cười hóm hỉnh, mấy đứa con gái đỏ mặt khúc khích…  Đám học trò ranh ma như quỷ sứ làm mỗi lần vào lớp Thầy cứ lúng túng trả lời những câu hỏi chẳng đâu vào đâu của tụi nửa trẻ con nửa người lớn như chúng tôi.

Đi song đôi với thầy Nhiếp là thầy Kiều Sanh dạy Anh Văn, có nụ cười giống y như tài tử  Khương Đại Vệ  trong phim kiếm hiệp làm nhỏ Hương ghiền phim chưởng và ghiền luôn nụ cười của ổng, vô lớp nó chọc ổng cười hoài. Hai ông đều trẻ trung vui tính nên học trò cũng dễ thân thiện, có điều chơi thì nhiều mà học thì ít nên cuối năm môn Anh Văn lớp tôi thua kém lớp bạn, Thầy có vẽ buồn, tự trách mình quá dễ dãi nên để học trò lười, chúng tôi hối hận và hứa là sẽ cố gắng trong năm học tới. Sau đó thì nghe tin Thầy cưới vợ, hoa khôi Hoàng Diệu thời ấy, chị Hà Ái Loan đẹp như búp bê, tụi tôi còn khoái nhìn, huống hồ ông Thầy trẻ. Mấy đứa bàn tán ‘vậy là thêm một nạn nhân bị sức hút từ tâm trái đất!’. Nhỏ Hương cứ tiếc cái răng vàng ‘duyên’ của Thầy, nó phán ‘phải chi trước khi cưới dzợ, ổng bẻ cái răng vàng lại cho tao để làm kỷ niệm!’

Sau 1975 thầy trò tan tác, mấy mươi năm không ai nghe tin của Thầy ra sao, bỗng một ngày thấy trong trang web của nhóm Hoàng Diệu ở hải ngoại có anh bạn nào đó đưa tin tìm gặp mộ hai vợ chồng Thầy trên một hòn đảo trơ vơ bên kia bờ Thái bình Dương mà buồn ứa nước mắt!

 Thầy Thắng dạy môn Công dân, ông hiền lành cũng như môn học mà ông phụ trách, nhớ mỗi lần ông gọi tôi đứng lên trả bài, đọc được vài câu là tôi hỏi ngược lại ‘phải không Thầy?’, ông đương lơ đảng ngó đâu đâu bỗng giật mình gật đầu, sau đó ông la  ‘cái con nhỏ nầy  khôn thiệt, nó hỏi đột ngột làm mình phải ừ với nó hoài’. Sau đó vài năm ông  đổi lên Sài gòn dạy, và mất vì bạo bệnh ở tuổi ngoài 50. Có lần đi dự họp mặt trường, gặp lại hoa khôi Thu Mỵ, chị vẫn còn đẹp não nùng sau đám tang chồng.

Thầy Ngọc Hiếu dạy Lý Hóa cao lớn đẹp trai, mỗi lần giảng bài xong ông hay hỏi cả lớp ‘ các em có hiểu không? thì y như rằng nhỏ Chuôn cao giọng ‘Dạ Hiếuuuu…u’ khiến cả bọn cười cái rần, tới bây giờ thiệt tình tôi cũng không biết thầy Hiếu có hiểu lũ học trò quỷ quái cố tình chọc Thầy không?

Thầy Trần Phước dạy môn Sử địa, dáng nhỏ con, da ngăm đen và nụ cười trắng bóc giống như anh Hynos, ông cưới người đẹp Ngọc Anh được thời gian thì bị Tổng động viên đi lính, hôm chia tay học trò, ông tâm sự ‘các em biết không, tối qua Cô đã gục đầu vào ngực Thầy khóc nức nở… ’ nhỏ Thu Hương (cũng lại nó) buột miệng: ‘Sao lại vào ngực Thầy được, phải gục đầu vào tóc Thầy mới đúng chớ, Cô ấy đứng cao hơn Thầy mà’ cả lớp cười cái rần làm ông đỏ mặt cười theo. Tôi không rõ thời chiến tranh giặc giả tùm lum mà ông tìm ở đâu ra bài thơ ‘Quê hương’ của Giang Nam, đem vào lớp đưa bọn tôi đọc… Bài thơ vô tư ở mấy đoạn đầu ‘Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường, yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ… ’ nghe cũng hay hay. Thú thiệt học trò khờ dại là vậy, ai dè sau 75 mới biết đó là thơ cách mạng. Cũng may thời ấy cả bọn không bị túm cổ vì tình nghi … giao liên.

Thầy Nguyễn Tư Thiếp dạy Việt Văn lớp 10, người miền Trung nhưng tiếng nói cũng không khó nghe lắm, ông kể hồi mới đổi về đây, ra tiệm cơm nghe cô bán hàng giới thiệu món cơm ‘gang’, ông nghĩ chắc đây là món độc đáo của xứ nầy , bèn kêu một dĩa, ai dè khi đem ra mới biết ‘cơm rang’ (cơm chiên Dương Châu).

          Ông giảng bài sâu sắc nhưng cá tính hơi cao ngạo và lãng mạn, trong giờ dạy, sau khi cho học trò làm bài là ông ra hành lang đứng ngắm… cảnh và làm thơ tình. Bọn tôi chắc rằng ông đương tiếc nuối một mối tình si nào đó. Cô giáo mới đổi về trường, dáng mảnh mai xinh xắn trong những chiếc áo dài xanh lam vàng tím, mỗi ngày đi ngang qua lớp khiến ông cứ ngơ ngẩn nhìn ‘gió bay tà áo cổ đồng, dáng em đi vạt nắng hồng buồn theo.’ Đám bạn tôi cứ len lén giờ ra chơi, lên bàn Thầy chép thơ tình chuyền tay nhau đọc. Nhà Thầy ở trong khuôn viên bệnh viện và cạnh bên là nhà thờ nên lúc nào ông cũng than với lũ học trò ‘Tôi ở giữa thiên đàng và địa ngục, tiếng bệnh nhân rên la đau đớn và tiếng chuông ngân êm ả mỗi chiều làm tôi không biết mình đương ở đâu đây’…

                 Hồi đi học, môn Triết thường bị xem là khô khan, buồn chán vì những lý thuyết mơ hồ trừu tượng, chẻ sợi tóc làm tư khiến đứa nào khoái nó đều bị xem là cụ non, nhưng đối với bọn tôi điều thú vị ở đây chính là học Triết với Thầy Trần Phạm Hiếu, ông là dân nhà giàu, nói tiếng Pháp lưu loát và dáng vẽ lúc nào cũng khoan thai, đi dạy luôn ăn mặc lịch sự tươm tất như sắp đi dự tiệc, môn học tuy khó nuốt nhưng ông biết ví von khôi hài làm cả bọn ‘ngộ’ ra chân lý đơn giản, khoái nhứt  là ông đọc mấy bài thơ tình dịch ra từ tiếng Pháp. . ‘hỡi rừng hỡi núi, hỡi những ghềnh đá cheo leo, khi vắng anh rồi thì mọi vật đều trở thành sa mạc hoang vu…’ làm bọn tôi mê quá, chép vào nhật ký gởi cho người yêu cứ y như … .thiệt!

                 Năm 76 tôi và Mạch Hút Sơn có dịp ghé thăm Thầy, vẫn dáng người cao gầy và gương mặt đăm chiêu mờ nhân ảnh sau khói thuốc, Thầy trò tâm tình với nhau đủ thứ chuyện trên đời, sau đó tôi bỏ Sóc Trăng ra đi biền biệt, tôi gặp thầy lần ấy cũng là cuối cùng, rồi nghe tin Thầy mất trong sự nghèo khổ, cô đơn nơi quê nhà, tôi thấy tim mình đau nhói!

                 Lần về lại Việt Nam mấy năm gần đây, Thạch ở NJ hết lời dặn dò ‘nhớ hỏi thăm đám bạn mình, xem mộ Thầy Hiếu chôn ở đâu mà đốt cây nhang tưởng niệm, tôi cũng quý ổng lắm.’ Rồi thời gian gấp rút ngắn ngủi, hỏi thăm đứa nào cũng lắc đầu không biết, và tôi lại hối hả ra đi… Cảm giác như mình có lỗi với Thầy, có lỗi với tấm chân tình của anh bạn xa xứ nhắn gởi.

                 Có một ông Thầy không thể không nhắc đến trong ký ức một thời để nhớ của tôi và của bạn bè trong những năm tháng ấy, đó là Thầy Lê khắc Thạnh, không biết đứa nào moi ra được cái tên riêng âu yếm trong gia đình mà gọi Thầy là ‘Bé Mai’(chỉ gọi lén thôi, chứ ông mà biết được thì bị sưng lỗ tai là cái chắc), phải nói ông có bộ nhớ cực kỳ tốt, học trò đứa nào đã từng đi qua ánh mắt Thầy thì chắc chắn dữ liệu đã được mã hóa chính xác, hàng chục năm trôi qua, ông vẫn gọi đúng phóc họ tên từng đứa khi gặp lại. Bản tính thân thiện, cởi mở vui tính nên môn Toán của ông đã khiến nhiều đứa trôi chảy tiến bộ đến bất ngờ, những tên lười biếng nhứt  cũng không thể cúp cua môn học của ông. Khoảng cách Thầy trò chẳng lớn hơn bao nhiêu tuổi nên tụi con trai chơi thân với ông sau giờ tan trường, mặc dầu đi học lè phè bị ông véo tai đau điếng, ông gọi học trò trai gái đều bằng ‘ông’ và kèm theo full name đầy đủ, nên sau nầy  lớn lên đi đâu nghe ai đó đọc tên mình dõng dạc, đều giật mình nhớ lại Thầy xưa.

 Có lần ông cho bài tập, dặn ai mà giải đáp đúng 15 câu thì sẽ được thưởng, có tên nào đó vặn vẹo trả treo ‘rủi Thầy cho 14 câu rồi lấy đâu ra 15 đáp số?’ ông nhíu mày đăm chiêu giây lát và nhẹ nhàng nói với nó ‘Ông ơi, nên nhớ đây là trường học chứ không phải trường đời, đã là trường học thì không có chuyện lừa đảo gian trá, nhớ chưa!’ Dĩ nhiên sau đó thì thằng nhỏ bị véo đã đời cho chừa cái tật théc méc, không hiểu sau nầy có bao giờ hắn nhớ lại Thầy xưa và thấm thía mùi đời với những lọc lừa giả dối!

Sau 75, hầu hết những ông Thầy có liên quan ít nhiều đến chế độ cũ đều bị đi cải tạo và đương nhiên là mất … nghề dạy, Thầy Thạnh cũng không ngoại lệ trong trường hợp nầy , học trò xót ruột thương Thầy và Thầy ra tù cũng không muốn về nhà ở SG nữa, mặc dầu gia đình nóng ruột nóng gan vì đứa con trai quý tử. Thầy cất một cái chòi lá ở ven đường, kèm tụi học trò luyện thi đại học, đứa đem rau cải, cá mắm, gạo muối tới nấu cơm thầy trò cùng ăn, mấy thằng con trai tối ngủ với Thầy, cái tình Thầy trò thắm thiết trong đoạn đời gian khổ đó.

Hôm về Sài Gòn, gặp lại Thầy cũ bạn xưa, kể lể vui buồn đủ thứ chuyện, đương nói chợt Nguyễn Hồng Sơn kéo ghế xích lại gần Thầy Thạnh…  ‘Thầy nhéo lổ tai em đi thầy, lâu quá không được Thầy nhéo, em cũng nhớ!’ ông Thầy bật cười vì ý muốn hơi bất thường nầy , nhưng tôi biết ông rất vui vì có đứa còn nhớ kỷ niệm thời đi học, còn nhớ Thầy dầu thời gian biền biệt mấy mươi năm…Tấm hình nhéo tai được chụp và đưa lên mạng, Ngọc Thạch coi xong kêu lên ‘Chời ơi! Thấy Ổng còn mạnh khỏe, phong độ là tui mừng hết lớn’.

Năm tiểu học không nhớ gì hết vì còn quá tẻo teo, năm đại học thì cũng chẳng có kỷ niệm gì đáng lưu lại trong bộ nhớ vì quá nhiều âu lo bận bịu trước ngưỡng cửa vào đời, chỉ có thời gian êm đềm nhứt  là 7 năm trung học ăn chưa no, lo chưa tới ‘em còn khờ dại ngây thơ quá, chỉ biết yêu thôi chả nghĩ gì!’ Bởi vậy mới có chuyện để nhớ hoài, còn nhiều nhiều nữa những ông Thầy thân yêu mà trong khuôn giấy hạn hẹp không thể ghi nhớ hết mọi câu chuyện vui buồn bên trong cửa lớp, nhưng tất cả đều là kỹ niệm đẹp khó phai.

Được học nhiều Thầy Cô, có nhiều bạn bè mới cũ hàng năm, Thầy Cô ví như ông lái đò đưa biết bao nhiêu lượt khách qua sông, ông lái đò chỉ nhớ loáng thoáng vài ba khách nào đó thôi (khách quên trả tiền đò) chớ làm sao nhớ hết. Học trò cũng có đứa quên đứa nhớ hình ảnh Thầy xưa… Bài viết nầy  như một tấm lòng tri ân tưởng nhớ đến tất cả những Thầy Cô đã dạy ở trường Hoàng Diệu từ trước 1975, những ông lái đò ngày xưa bây giờ đều buông tay chèo mệt mỏi, kiến thức tâm huyết Thầy đã truyền bí kíp cho lũ học trò, có đứa thành danh có đứa thành thân, họa hoằn cũng có tên bạc đầu còn khờ dại long đong, nhưng cả Thầy lẫn trò cái tình Hoàng Diệu vẫn luôn giữ trong lòng dầu dòng đời mãi trôi và những cơn sóng đời biến động. Gần 50 năm rồi ta vẫn nhớ bạn cũ trường xưa, nhớ từng góc phố thân quen, từng con đường phượng đỏ, kỷ niệm học trò thời mới lớn ngẩn ngơ mơ mộng buổi tan trường, cho dầu bây giờ những cánh chim bạc đầu lạc loài, xa xứ nhưng vẫn luôn nhớ về tổ ấm một thời, nơi bình yên chim hót ngày xưa.

Và Thầy ơi xin mãi có mặt trong buổi điểm danh vào lớp để lũ học trò còn được dịp kêu tiếng Thầy ơi!